- Đối với đậu phụ:
Chọn đậu phụ bề mặt trơn và cứng tự nhiên, ở một số nước Châu Á người dân
được khuyên nên ăn đậu phụ ở dạng nước hay còn gọi là đậu phụ Nhật Bản.
- Đối với mì sợi:
Tại các nước xung quanh đều khuyên không nên chọn những loại có màu "bắt
mắt" (mì sợi tại một số quốc gia Châu Á thường được nhuộm màu). Nên rửa
thực phẩm cẩn thận dưới vòi nước vì formaldehyde tan trong nước.
Ngoài việc tránh mua thực phẩm
có chứa formol, quan trọng hơn là việc kêu gọi người buôn bán và sản xuất
thực phẩm không cho formol vào thực phẩm vì bất kể lý do gì và quan trọng
là cần biết rõ nguồn gốc của thực phẩm. Biết đâu chính gia đình mình hay
người thân có thể ăn phải loại thực phẩm trên.
Cần tăng chế tài xử phạt
Tại sao đã tuyên truyền, đã cấm
sử dụng hàn the, formol trong thực phẩm nhưng người ta vẫn cứ dùng? Rất
nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân đầu tiên thuộc về chính quyền sở tại.
Pháp lệnh VSATTP (điều 43) quy
định UBND các cấp phải chịu trách nhiệm quản lý trên địa bàn của mình về
vấn đề ATTP nhưng UBND các cấp do nhiều lý do (lực lượng mỏng, trình độ
chuyên môn yếu, nhận thức,....) đã không tiến hành kiểm tra, giám sát các
cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Nguyên nhân thứ hai là vì tổ
chức bộ máy VSATTP từ trung ương đến địa phương còn yếu và thiếu. Nguyên
nhân khác rất quan trọng là chế tài xử phạt chưa nghiêm minh, chưa đủ sức
răn đe.
Đối tượng đưa các chất độc hại
vào thực phẩm phải bị truy tố trước pháp luật, phải bị phạt thật nặng để
không dám tiếp tục và gia tăng tái phạm, các cơ sở vi phạm cần bị rút giấp
phép, đóng cửa.
Có thể lấy Indonesia để so sánh:
Người sử dụng formol trong thực phẩm sẽ bị phạt tối đa 5 năm tù và khoảng
60.000USD.
Hy vọng rằng với sự chỉ đạo sát
sao và cương quyết của Chính phủ, sự phối hợp nhịp nhàng của các bộ, các
ngành, các địa phương, sự tự giác của người sản xuất, sự cảnh giác của
người tiêu dùng, cũng như sự nghiêm khắc của pháp luật, vấn đề VSATTP nói
chung và formol nói riêng chắc chắn sẽ có những chuyển biến tích cực trong
thời gian tới.