KỸ THUẬT THỞ - ĐIỀU HOÀ
Chẳng riêng gì người học võ -
thở được nghĩa là sống, nhưng biết thở còn
sống và sống có ý nghĩa cao hơn nhiều. Các cụ xưa thường nói : ” Dưỡng
khí nhất tam thiên “ nghĩa là ngoài nguồn sống; cái
ăn, cái uống, thì khí lành là một trong ba báu
vật của “ Đức cao “ ban cho con người. Thiện
ý ấy thiết nghĩ cũng không ngoài việc
nhấn mạnh : không khí và việc thở quan trọng và
thiêng liêng biết nhường nào !
Đối với một võ sĩ, suốt cả bài
quyền và trận đấu, sự thể hiện được
đều đặn, đầy đủ về trình độ ,
về kỹ thuật , chiến đấu , cũng như các
khả năng khác của mình thì đó là công phu, là năng
lực mà ngày nay ta tạm gọi là sức bền,
hoặc gần nghĩa với nó là “ thể lực “ và
đó là cơ sở chủ yếu tạo điều kiện cho
việc phát triển các tố chất khác của cơ
thể.
Sức bền có mối quan hệ đặc biệt
với trạng thái tâm sinh lý của võ sĩ.
Tập phát triển sức bền thông qua các bài quyền
và kỹ thuật luyện thở đúng phương pháp có tác
dụng tương hỗ cho các thế chuyển, thế đánh...
Bởi hoạt động của các cơ quan hô hấp và
tuần hoàn là tiền đề khởi phát quyết định
cho hết thảy các hoạt động mang ý nghĩa
tồn tại của con người.
Thường sau các vận động nặng, vận đọng
ở giai đoạn cực hạn người ta thường
bắt gặp các hiện tượng thở dốc, thở
không ra hơi, thở đứt đoạn, nghẹn thở...
sự đòi hỏi cấp bách của cơ quan trong tình
trạng thiếu ôxy - bắt phổi phải hoạt động
với cường độ tối đa để gấp gáp bù đắp
phần thiếu hụt đã là một trở ngại
nhiều khi rất nguy hiểm.
Như vậy, việc nắm vững phương pháp,
biết kết hợp nhịp thở với các cơ chế
vận động đột khởi , mạnh mẽ của cơ
thể, giống như một ca sĩ lấy hơi khi hát , hay
một vận động viên điền kinh biết điều
tiết nhịp thở trong khi chạy đường dài .
Tất nhiên, vận động của một người
tập võ không đều đặn như vận động viên
chạy đường dài, hay hoàn toàn được chủ động
trong điều kiện hoà bình ở một ca sĩ khi
biểu diễn . Biến động của một bài
quyền rất phức tạp ( trừ các bài quyền dưỡng
sinh ) , khi vận động cơ thể thường ở trong tình
trạng căng thẳng, uốn gập, tự xoắn
vặn hoặc bị va đập, giằng kéo liên tục...
với tiết tấu khác nhau, mật độ vận động
không đồng nhất ; cho nên không thể tiến hành
thở bằng biện pháp thông thường để vừa
đảm bảo việc cung cấp ôxy cho tuần hoàn
hoạt động, Và khi cần tạo sức mạnh,
chịu sự va đập hoặc khi vận động ở cường
độ cao , tốc độ
nhanh hô hấp vẫn điều hoà , nhịp thở vẫn
chủ động, không
rối loạn. Được như vậy,
phải có phương pháp và hình thức luyện
tập tương ứng.
Chung quy ở hình thức luyện thở cơ
ngoại (không phải nội công ) phái Nhất nam có
một số phương pháp tập dưỡng khí kết
hợp với các hoạt động cơ bắp ( quyền )
– qua tổng kết có một số kiểu thức đặc
trưng như sau:
-
Hít hơi
qua mũi, thở ra qua mồm và mũi ;
-
Hít
thở sâu bằng mũi, thở nhanh hơi ra bằng
miệng ( hét to ) ;
-
Hít vào
căng bụng, thở ra hóp bụng ( thở bụng )
-
Hít và
thở ra liên tiếp không cần sâu ;
-
Cắn
răng hít hơi qua mồm, thở ra qua mồm và mũi ( há
mồm )
A.
Kỹ thuật thở bụng:
Thở bằng bụng là phương pháp thở rất
đặc trưng thông thường của các trường phái võ
phương Đông. Đối với võ NHẤT NAM thở
bằng bụng không chỉ là cách thức chủ yếu
mà còn mang tính bắt buộc.
Thở bằng bụng có 2 cấp độ:
-
Một
là : phương pháp thở bằng bụng thông thường (
tất nhiên không chỉ căng bụng mà còn căng
ngực ở mức tối đa ).
-
Hai là,
phương pháp thở khí công.
Trong chừng mực ở phần trình bày sau đây,
tôi xin đề cập đến phương pháp thở thông thường
bằng bụng. Cách thức này không chỉ rất
hợp lý, rất tác dụng cho cơ thể ở
trạng thái vận động nặng đột ngột, mà còn
rất dễ thở, dễ thực hiện, nhất là sau
một quá trình tập luyện phối hợp.
+ Giai đoạn thứ nhất: hít vào- dùng hơi và dùng
cơ bụng đẩy cơ hoành ép các tạng phủ ở
bụng xuống phía dưới và ra phía trước. Bụng
phình lên, các cơ bụng co thắt nén giữ tạng
phủ tạo được độ dãn nở tối đa
về thể tích, giúp cho phổi hoạt động dễ dàng
hơn và có dung tích chứa lớn nhất.


H.21 , H.22 là một số
hình minh họa thể hiện mối quan hệ hô
hấp và tuần hoàn , và sơ đồ cơ chế hít vào
thở ra bằng bụng ( a: tim ; b: phổi ; c: cơ chế
vận động của cơ hoành nhìn trực diện ; d
: tư thế nhìn nghiêng ở giai đoạn trung bình
; e: trạng thái hít vào ; g: trạng thái thở ra ).
+ Giai đoạn thứ hai: Thở ra- việc hóp
bụng nâng cơ hoành lên cao, tạo áp lực ép phổi
ở mức gần tối đa để đẩy hết lượng
hơi dự trữ và một phần ứ đọng, tạo
điều kiện để tiếp nhận một khối lượng
hơi dự trữ và một phần ứ đọng, tạo
tiền đề tiếp nhận một khối lượng không
khí mới trong lành.
Thở bằng bụng thông thường hít vào
bằng mũi và thở ra bằng miệng. Ở giai đoạn
tập luyện ban đầu, việc hít vào và thở ra không
cần quá cố gắng, chỉ nên duy trì số
lần thở và thời gian thở đúng quy định (
sẽ được hướng dẫn kỹ ở phần III )
để rèn luyện và nâng cao kỹ năng thở, để
phối hợp đồng bộ với các dạng vận động
mạnh mẽ của tay chân. thở bằng bụng,
từ tốn, điều hoà ( tức là không cần thở
quá sâu và không cần thở quá mau ) – còn được
gọi là phương pháp thở đoạn - thở vừa.
Ở quá trình cao hơn, hít vào gần tối đa và
thở ra cũng gần tối đa. Tức là cố ở
mức co giãn cơ hoành và ép gan phổi ở mức
gần cực hạn . Tập thở như thế, ở
thời kỳ đầu rất mệt, rất khó phối
hợp với động tác trong bài quyền và đồng
thời cũng không thể tiến hành luyện tập
được lâu, dược nhiều lần.
Nhưng bù lại; khi hít thở gần tối đa, các
tạng phủ trong bụng và trong lồng ngực đều
chịu ảnh hưởng của vận đọng thở: cơ
hoành co, đẩy các tạng phủ ở bụng đi
xuống và bụng phình lên dẫn đến lúc đụng
thành bụng thì cơ bụng phản ứng lại, ép
tạng phủ, bụng lúc ấy cực cứng, máu trong
tạng phủ bị dồn ép tăng cường quá trình
trao đổi... Rồi cơ hoành không co nữa, bụng
trở lại bình thường , tạng phủ trở
về vị trí bình thường , không bị cố ép,
máu trở về... để rồi bị dồn đẩy
toả đi trong những nhịp thở tiếp theo.
Vậy thở sâu, không chỉ có tác dụng
trực tiếp cho các dạng vận động phức
tạp, nặng nề mà còn có khả năng giải
quyết tự chữa lành những bệnh tật mới
phát sinh do khí huyết không thông, kém ăn, mất ngủ, táo
bón, đau dạ dày, kinh nguyệt không thông.
+ Giai đoạn thứ ba: Quá trình hít vào và
thở ra ở mức tối đa - cực hãn. Tức là
giảm tối đa và co cứng cũng tối đa ; bắt
phổi và cơ hoành phải co nở ở mức mà cơ
thể không thể cố được nữa. Thường bước
này ở mỗi buổi tập chỉ nên tiến hành vào
cuối giờ, tập từ 3 đến 5 phút xem như
phần bổ trợ trước khi tập thư giãn.
Tập thở tối đa là hoàn toàn ép các cơ quan hô
hấp và tuần hoàn... vận động theo một cơ
chế đặc biệt theo ý muốn... sự thay đổi
này nhờ các đường liên lạc giữa các trung tâm điều
khiển hệ thần kinh thực vật sẽ dẫn đến
những rối loạn hoặc ức chế ở hầu
hết các cơ quan chức năng ( bài tiết, nhận cảm, điều
khiển ... ). Vì vậy, chỉ có thể tiến hành
tập từ từ và từ từ tăng dần khối lượng,
tăng dần sức ép, tăng dần lực co ép cơ hoành. Được
như vậy, cơ thể sẽ có khả năng thích ứng và
dần dần sẽ trở thành một thứ vắc-xin
hiệu lực giúp cơ thể qua các cơn xúc động
mạnh, chống được hốt hoảng mất bình
tĩnh, tiêu hao được mỡ thừa, không xơ cứng và
tắc nghẽn động mạch...

H.23 là đồ hình lý giải các nguyên lý
thở sâu ( a: mũi hướng hơi vào ; b: hướng hơi ra ;
c1: thể tích lưu thông bình thường ; c2: thể tích
bổ xung ; c3: thể tích dự trữ ; c4: thể tích ngưng
đọng ; d1: dung tích sống ; d2: dung tích phổi ).
H.24 là hình đồ thị thể hiện các giai
đoạn thở nông, trung bình, sâu, cực sâu ( T1:
thở thường ; T2: thở vừa ; T3: Thở ở
mức gần tối đa ; T4: Thở ở mức tối đa
; c1: thể tích lưu thông ; c2: thể tích bổ xung ; c3:
thể tích dự trữ ; c4: thể tích ngưng đọng ;
d1: dung tích sống ; d2: dung tích phổi ).
|