|
b.
Kỹ thuật đánh trán bên và đỉnh đầu bên:
Thủ
pháp đánh trán bên và đỉnh đầu bên vào mặt , vào
hõm tai, vào thái dương đối phương, về quan
hệ và tình huống sử dụng thường
gần giống như thủ pháp đánh trán giữa,
chỉ có khác là một bên gật trực diện, còn
một bên là gật đầu sang hai bên. Trong sử
dụng kỹ thuật gật đầu sang hai bên có biên
độ rộng hơn, lực mạnh hơn và dễ sử
dụng hơn.
Thực
hiện đòn đánh bằng trán bên và đỉnh đầu
bên cần chú ý các yêu cầu sau:
- Chỉ
sử dụng khi tay đối phương và tay người
chủ công đang thực sự bị ràng buộc
- Chỉ
sử dụng trong quan hệ áp đối: mặt và
mặt gần nhau ;
- Chỉ
sử dụng trong tư thế rất thuận lợi
cho việc thực hiện các kỹ thuật đánh trán
hay đỉnh đầu khi đối phương lao vào tấn công
;
- Chỉ
được phép đánh vào các vị trí gây choáng, gây nguy
hiểm hoặc ít nhất là làm mất thăng bằng
cho đối phương ngay từ lần va thứ nhất.
c.
Kỹ thuật gật đỉnh đầu ra phía sau:
Kỹ
thuật gật đỉnh đầu ra phía sau chỉ được
sử dụng khi đối phương ôm khoá từ phía sau và
chiều cao của đối phương tương dương với
chiều cao của bản thân ; đòng thời, người
ôm khoá phải có một khoảng cách đúng tầm (
không bị áp sát tỳ cứng, không bị giãn
rộng ngoài tầm gật ).
Gật
đỉnh đầu ra phái sau đánh trực mặt đối
phương không chỉ thu được kết quả : gây choáng,
thoát được đòn khoá mà còn có khả năng
tạo điều kiện cho mông, tay, cho chân phát
triển tiếp các đòn đả công 2,3...


d.
Kỹ thuật tỳ, húc đầu:
Kỹ
thuật tỳ, húc đầu được dùng trong các trường
hợp bị đối phương ôm khoá từ phía trước,
bị đối phương có cơ thể to cao tấn công
trực diện bằng đòn tay, và đánh tầm
rất cao... tỳ, húc đầu là kỹ thuật dùng
trán giữa, đỉnh đầu đánh vào ngực của
đối phương để đả công, chống công. Độ
cứng và sức mạnh của các đòn lao
trực diện như trên rất mạnh và rất có
hiệu quả.
Tất
nhiên tỳ và húc đầu chỉ thực hiện được trong một
số điều kiện thuận lợi và phải có
sự đảm bảo các yêu cầu cụ thể như
sau:
+
Chỉ tỳ đầu vào ngực đối phương để
phá đòn khi hai tay ôm được hông đối phương ;
+
Chỉ tỳ đầu vào bụng, vào ngực đối
phương ở thời điểm đối phương không điều
kiện lên gối, hoặc phản đòn tay
bằng thủ pháp đấm móc “ hạ thượng
quyền “ ;
+
Chỉ húc đầu trong trường hợp đối phương
lỡ trớn , không thể lách né ;
+
Chỉ húc đầu trong trường hợp đối phương
chuyển tấn tấn công, hở bụng, hở
ngực ở thời điểm áp đòn trong thời
điểm chỉ một tầm lao.
e.
Kỹ thuật lắc mông
Lắc
mông là thủ pháp dùng cơ hông và kỹ thuật di đảo
tấn để lắc mông về hai phía trong các trường
hợp chèn chân phá tấn, chặn đòn công
bằng chân của đối phương ngay từ gốc,
chặn đòn tay của đối phương đánh vào
hạ bộ, vào bụng dưới... hoặc kết
hợp với đòn tay tỳ quật đối phương.
Trong nhiều trường hợp lắc mông , tỳ ép mông
còn chống được các thủ pháp tấn công
tới tấp bằng đòn tay, các kỹ thuật
du ập nhanh, các đòn đá cao và phát nghịch
của đối phương ( ví dụ : “ phát nghịch
tả lôi cước “, “ phát nghịch hữu lôi cước
“ ... )
Khi
sử dụng các đòn lắc mông cần lưu
ý các điểm cần thiết sau:
+
Khi lắc mông phải ép tay che mặt ;
+
Khi lắc mông phải trần thấp đổ người
theo hướng ngược chiều ;
+
Khi lắc mông phải di đảo tấn ( nhất là
tấn bám ) tạo điểm bám , ổn được
trọng tâm, và ép được tấn trụ ;
+
Chỉ lắc mông ở khoảng cách có thể
ập áp ngay chân trụ, bụng, mông , đùi đối phương
ở thời điểm đảo tấn, di tấn , đồn
tấn...
+
Không được vặn đảo nhiều để lấy
đà.
f.
Kỹ thuật húc mông, quật mông
Là
thủ pháp đánh trọn phần mông về phía sau để
hoá giải đòn, để khắc công và để góp
phần quăng quật, tấn công đối phương.
Kỹ thuật này thường được áp dụng trong
trường hợp bị đối phương ôm khoá từ phía
sau, hoặc bị tấn công ở tầm đánh
rất cao từ phía sau ; hoặc bị đối phương
lao nhanh người để tấn công, bay cả thân để
tấn công ; trượt tấn dài để tấn công.
Khi
sử dụng các kỹ thuật húc mông quật mông
cần lưu ý các điểm sau đây:
+
Chỉ được đảo thân , trầm tấn húc mông
khi đối phương tấn cống ở thời điểm
gần và đối ( tiếp giáp ) ;
+
Chỉ quật mông khi bị đối phương ôm khoá
bằng hai tay ở tư thế tiếp áp ;
+
Chỉ ập mông khi đối phương đánh bằng đòn
tay , hoặc đá cao, đá bay, đá vung rộng, đảo quay
người lật gót.
g.
Một số kỹ thuật phối hợp đầu
– mông
Kỹ
thuật kết hợp đầu , mông thường được
dùng trong một số trường hợp chống ôm,
khoá, bị ràng buộc và ngoắc giằng nhau
phần tay.
Ví
dụ: Khi bị đối phương ôm phía sau, dùng đỉnh
sau của đầu lấy đà rồi gật mạnh vào
mặt đối phương . Từ đó , trầm tấn
quật mông đánh văng đối phương qua đầu về
phía trước ( thường có sự kết hợp thêm
phần tay khoá giữ tay đối phương ) . Hoặc
ở một trường hợp khác , tuỳ theo hoàn
cảnh có thể đánh mông trước , rồi gật
đầu sau , hất đối phương sang bên, hoặc tung
đối phương lộn ra phía sau. Ngược lại, khi bi
đối phương ôm nắm từ phía trước, việc
chủ động tấn công để gỡ khoá bằng
thủ pháp đánh đòn đầu , kết hợp
với kỹ thuật đảo thân đánh đòn mông là
hợp lý. Tất nhiên, có thể đánh bằng
thủ pháp lên gối , khoá chân, giằng khoá tay đổ
người ... để đảo đòn. Nhưng kết
quả thường là không an toàn nhanh và hợp lý
bằng thủ pháp kết hợp vừa nêu trên.

H.20
là một số hình minh hoạ thể hiện cho
một số kỹ thuật đánh đòn đầu và
mông.
|