|
b.
Kỹ thuật gạt tấn đối phương
Thời điểm
và kể cả mục đích của kỹ thuật gạt tấn đối phương,
phần nào giống như kỹ thuật triệt tấn. Chỉ có khác là thủ
pháp gạt tấn thường không đối trực đòn, mà là dật, đẩy,
gạt theo các hướng từ trái sang phải, từ phải sang trái , hoặc
từ trước dật về phía sau... bằng
diện gót, bằng bắp cẳng chân và bằng sống ngoài cẳng chân. Như
vậy, gạt đẩy chân là kỹ thuật đánh chéo tấn đối phương
khi di chuyển , khi bật nhảy . Thủ pháp này đòi hỏi phải xử lý
cực kỳ chính xác, khéo léo: về thời điểm, về khoảng gạt,
về lực gạt sao cho không quá đà , lỡ nhịp. Hỗ trợ cho thủ pháp
của chân gạt khi hành động – toàn thân phải đồng thời đổ
về phía sau khoảng 15˚ đến 45º, hai tay ở tư thế áp che. Khi
có cơ hội là kịp thời phát triển các đòn công bằng thủ pháp
quăng quật, cầm nã...
c.
Kỹ thuật ngoắc tấn đối phương
Các thủ
pháp của đòn “ câu liêm cước “ chính là kỹ thuật thể hoá
tinh thần ngoắc triệt tấn ( cả chân trụ và chân di ) bằng mu trên
của bàn chân bẻ gập vuông góc với sống cẳng chân. Thực chất
của đòn “ câu liêm cước “ là sự biến ngẫu của kỹ thuật
gạt tấn, chỉ có khác là diện tiếp chiêu kể cả hai phía ( công
và thủ ) đều thực hiện chủ yếu bằng cổ chân và mu trên
của bàn chân. Có trưwngf hợp, người thực hiện vừa bật lùi,
hoặc tự lao ngã về phía sau để ngoắc dật tấn đối phương.
Tất nhiên là hoàn cảnh cho phép để thực hiện được các giải
pháp khắc công như trên thường không nhiều.
d.
Kỹ thuật đối đòn
Kỹ
thuật đối đòn đối phương bằng thủ pháp đòn chân là biện
pháp khắc chân công của đối phương thường được áp dụng
trong các trường hợp như sau:
+
Khi đối phương tấn công bằng chân ở tầm đánh từ thắt lưng
trở xuống ;
+
Khi đối phương áp công quá sâu bằng kỹ thuật vươn chân, áp mông
đổ người về phía sau ;
+
Khi đối phương trầm tấn đánh vào phần hạ.
*
Trường hợp thứ nhất, người
chủ công dùng sống cẳng chân, đầu gối, mu trên bàn chân để
áp đòn đánh của đối phương vào thời điểm lực phát chiêu chưa
đạt đến tối đa. Tốt nhất là chặn được đòn đánh từ
gốc, tức là giai đoạn đối phương mới chớm phát đòn
*
Trường hợp thứ hai, có
thể là đối phương chuyển tấn sâu, áp mông đảo thân tấn công
, dùng đòn “ thiết cước “ , “đao cước “ , “ lôi cước
“đánh thấp : vẩy gót , áp ập sống cẳng chân vào hông, vào mông
và khuỷu chân của đối phương đều có khả năng phá được đòn
và phát triển thuận lợi các đòn công kế tiếp.
*
Trường hợp thứ ba, trong
thời điểm đối phương chủ động tấn công, kỹ thuật đối đòn
bằng sống cẳng chân, không chỉ có tác dụng cản phá , làm vô
hiệu hoá ý đồ của đối phương , mà nhiều khi còn là thủ pháp
đả công rất có hiệu quả.
Thủ
pháp chặn đòn , đối đòn của đối phương muốn có kết quả
đều phải được thực hiện chính xác, kịp thời thường ở
thời điểm chớp nhoáng khi đòn đánh của đối phương mới
chớm phát.
e.
Kỹ thuật đồng phản đối phương
Đồng
phản là thuật đông thời trả đòn tấn công của đối phương
ở thời điểm đối nghịch nhất. Tất nhiên trong thực tế vẫn
là chậm hơn, nhưng khôngcó nghĩa là sau hẳn. Thường kỹ thuật dùng
đòn chân đối đòn chân chỉ nên dùng trong các trường hợp sau:
+
Đối phương đá cao ;
+
Đối phương đá vòng từ hai phía ;
+
Đối phương đảo đá hậu gót ;
+
Đối phương đá quét
+
Đối phương đá song phi
+
Đối phương đá bay.
*
Trường hợp thứ nhất,
ở thời điểm chân đối phương vươn cao, háng mở . Người thủ
vừa trầm tấn đổ người ra phía sau tránh đòn, vừa bật gót
lồng vào bộ hạ đối phương, hoặc dung kỹ thuật đối công đánh
vào chân trụ.
*
Trường hợp thứ hai, khi
đối phương đá từ hai phía. Đặc biệt khi đảo người đá quét
chân sau ; hoặc đổ người ra phía sau để đá quét chân trước...
Như vậy, việc ập nhanh, kịp thời dùng các kỹ thuật “ lôi cước
“đả công vào đùi, vào háng , vào bụng đối phương là dễ dàng
thu được kết quả.
*
Trường hợp thứ ba, khi đối
phương dùng đòn “ hậu nghịch lôi cước “ hoặc đòn “ phát
nghịch lôi cước “ ... thì ngay ở thời điểm đối phương đảo
hông để tấn công ( tất nhiên điều kiện thực hiện chỉ có
thể xảy ra ở khoảng cách một tầm đánh ). Người
phòng thủ chỉ có hai cách: bật lùi hoặc phản đòn đánh
chân trụ, lồng bộ hạ, du đẩy mông , áp ép đè thân đối phương.
Kỹ
thuật chặn đòn là biện pháp dùng cạnh ngoài của bàn
chân, gót chân, bàn chân, sống và má ngoài cẳng chân đánh
trực tiếp vào đầu gối, hoặc ngọn đòn của đối phương. Ví
dụ: đối phương co chân sau lên đá ; người khắc công chỉ cần
kê chân trước sao cho cạnh ngoài bàn chân đối trực tiếp vào
cổ chân, hoặc khớp đầu gối chân tấn công đối phương khi đang
trực tiếp tấn công.
Trong
trường hợp đối phương xoay mông dùng đòn “ hậu lôi cước
”, “ tả hữu hậu lôi cước “ ... thì biện pháp chặn đòn vào
mông, vào hông, vào chân trụ của đối phương thường là dễ
nhất.
Hiệu
quả có được do các kỹ thuật chặn đòn là bởi vì: sống
cẳng chân có tiết diện kiểm soát, đón đòn cao ; mông và chân
trụ là vị trí ít biến động và thường gần như “ tĩnh “
trong quan hệ trực công. Hơn nữa, mông và chân trụ gần như là
trung tâm dồn lực, bị phá tức là hết. Còn trường hợp chặn
đòn ở thời điểm chớm phát – khi lực công chưa đủ mạnh,
tốc độ đạt chưa cao thì đương nhiên là có hiệu quả .
*
Trường hợp thứ tư, khi
đối phương đá quét thấp. Bắt nắm đúng thời điểm, ập đòn
phá từ gốc, hoặc bật cao tránh đòn và đồng thời đả công
bằng thủ pháp ddnashgót chân vào bụng, hông, mặt đối phương
ở vị trí thuận lợi là ăn chắc .
*
Trường hợp thứ năm, khi
đối phương đá song phi, dùng kỹ thuật ập đối đòn, hoặc dùng
thủ pháp gạt dật chân bật nhảy, chân lấy đà của đối phương
ở thời điểm vừa cất mình lên không. Thậm chi, nếu phát hiện
sớm ập cương quyết, dùng chân hoặc kháo chính xác chân trụ
bật của đối phương thì nhiều khi không lường hết kết quả
được.
*
Trường hợp thứ sáu, khi
đối phương tung người lên đá bay, người phản công có thể đả
công và sẽ nhận được kết quả dựa vào một trong hai thời điểm
sau:
- Khi đối phương đang bay trên không ;
- Hoặc khi đối phương vừa kết đon, chân chạm đất chưa
kịp ổn định, cơ thể trong trạng thái mất thăng bằng.
Thời điểm
thứ nhất, bằng kỹ thuật lách đảo sang bên để tránh đòn là
đồng thời phản đòn bằng kiểu chân “ lôi cước “, “
thiết cước “, “đao cước “.
Ở
thời điểm thứ hai, dùng thủ pháp lơi tấn, đợi đối phương
đánh hụt đòn là áp ập tấn công.
|