|
THỨC 1: Từ thế " thu tấn " bật
cả hai chân ra phía sau chếch với trục gốc một góc 45º ,
thủ thế " ẩn nhị thượng hạ trảo ", co chân trái
đá theo thế " thượng cước đao ". Từ đó, rút chân
trái về phía sau vắt chéo trước chân phỉa. Đồng thời thu
hai tay về thế " ẩn nhị song trảo " , người hơi vặn
theo chiều kim đồng hồ rồi đánh ra thế " mã nghịch lôi
cước " bằng chân phải.
THỨC 2: Từ thế cuối của thức một,
thu chân phải về rồi bước ngang sang bên phải , trầm thấp,
đảo người một góc khoảng 90º về bên trái , đổ tấn vào
chân phải, kiễng gót chân trái thủ thế " ẩn nhị hạ
thiết trảo " từ đó dồn vào chân trái, người đổ và
vặn về phía bên trái, tay trái giật lên thành thế " thượng
ẩn trảo " tay phải ép xuống thấp che hạ bộ, chân phải
đá thế " thượng phát thiết cước " và dồn tấn
xuống chân phải, tay phải đánh ra thế " phát dương đao
" , tay trái ép xuống thủ thế " ẩn hạ trảo ,
" người trầm thấp. THỨC
3: Từ thế cuối của thức hai, đổ người về phía sau, tấn
dồn vào chân trái, tay phải thu về thành thế " ẩn hạ
trảo ", tay trái giật lên thành thế " ẩn thượng trảo
", từ đó đá chân phải theo thế " hữu cước đao
" rồi giật về thạ xuống phía bên phải ; đồng thời,
di gót chân trái theo đường vòng cung ngược chiều kim đồng
hồ khoảng 0,3m - 0,4m hai tay biến thành thế " tiền hữu
song trảo ", người cũng vặn theo chiều ngược kim đồng
hồ một góc 90º . THỨC 4 : Từ thế cuối của thức
ba , rút chân trái về bán chân duỗi, cẳng chân vuông góc với
đùi thủ thế " ẩn mã hùng kê cước " ; đồng thời,
xoay gót chân phải theo chiều kim đồng hồ một góc 90º , đá
chân trái theo thế " hậu lôi cước " , từ đó giật
chân trái về phía sau theo thế " ẩn hậu tiền đao "
. Trục mặt xoay khoảng 180º theo chiều kim đồng hồ, từ đó
hạ tấn chân trái theo thế " ẩn mã nhập quy trảo "
( h.244 ). Đồng thời lộn người về phía trước, tỳ vai phải
xuống đất đánh tiếp theo thế " thổ lôi cước ". THỨC
5 : Từ thế cuối của thức bốn, hạ nhanh gót chân trái xuống
rồi bật người trở về thế " ẩn thượng song đao
". Từ đó, giật gót chân phải theo thế " âu liêm cước
", tiếp đó giật trả gót chân phải về vị trí ban đầu
; đồng thời, đánh tay phải về phía cùng hướng theo thế
" hậu chỏ " rồi vặn người theo chiều kim đồng hồ,
đảo vai trái về phía trước đánh tiếp thế " trực trảo
". Dồn tấn sang chân trái đánh thê " thượng hạ
song trực trảo ". THỨC 6 : Từ thế cuối của thức
năm, bật tấn chân trái phóng chân phải theo thế " thăng
cước đao " hạ người xuống, dồn tấn vào chân trái,
chân phải ép xuống đầu gối gần chạm đất, hai tay thủ
thế " ẩn nhị thượng hạ trảo ", rồi bật người
lên dồn tấn vào chân phải, tay trái biến thành thế " ẩn
hạ trảo ", tay phải đánh về phía bên phải theo thế
" hữu lôi trảo ". Từ đó trầm tấn ở chân phải đảo
người ngược chiều kim đồng hồ đá thế " phát nghịch
lôi cước " bằng chân trái, thu chân trái về , dồn tấn
vào đẩy, rồi đẩy người đảo theo chiều kim đồng hồ thủ
thế " ẩn thượng đao ". THỨC
7 : Từ thế cuối của thức sáu, thu chân phải về, cẳng chân
vuông góc với đùi, bàn chân co theo kiểu " lôi cước
", từ đó đánh ra theo thế " tả lôi cước
" rồi thu chân phải về, cuốn gọn người đổ về phía
bên phải, co chân trái đá ra thế " thổ phát trực cước
" tiếp theo đó thu chân trái về co gọn lật người về
phía bên phải đồng thời đá chân phải theo thế " thổ
thăng cước đao ". THỨC 8: Từ thế cuối của thức
bảy, thu chân phải về người dướn lên bật về thế "
ẩn song trảo ", ở tư thế này, tấn dồn vào chân trái,
người trầm thấp. Từ đó bước chân trái về nửa bước,
xoay gót chân phải một góc hơn 90º theo ngược chiều kim đồng
hồ ; đồng thời, hai tay biến thành thế " ẩn thượng hạ
nhị quyền ", từ đó đá ra thế " hữu cước đao
", hạ chân phải xuống xoay gót theo chiều kim đồng hồ
một góc khoảng 90º . Đồng thời, đánh tay phải theo thế
" phát dương quyền " tay trái thủ thế " ẩn hạ
trảo ". THỨC 9 : Từ thế cuối của thức
tám, bước chân phải chuyển về phía bên trái, dồn tấn vào
đấy ; đồng thời, thu tay phải thành thế " ẩn thượng
quyền ", tay trái hơi giật lên che ngực ; từ đó, đá chân
trái theo thế " nghịch lôi cước " thu nhanh chân trái
về , bật chân phải tung người lên lật về phía bên trái. Đồng
thời tung cước thế " thăng thiết cước ", ở thế đá
này co gọn người, chân trái thu vào triệt để, sao cho khi rơi
phần tiếp chạm với mặt đất là má ngoài cẳng chân, mông
và toàn bộ sống cẳng tay bên trái. THỨC
10 : Từ thế cuối của thức chín, lật nhanh người sang trái
đá thế " thổ giáng thiết cước ". Từ đó bật người
lên dồn tấn vào chân trái, trở về thế " ẩn nhị hạ
thiết trảo ", dồn tấn sang chân phải, người dướn lên
đánh thế " áp nhị trảo ". Tiếp đến vặn nhanh ngườivề
phía bên phải, đá chân trái theo thế " tả cước đao
". THỨC 11 : Từ thế cuối của thức
mười , thu chân trái ra sau chéo về phía trước chân phải,
hai tay thủ thế " ẩn hạ thượng song đao ", tấn dồn
vào chân trái ; từ đó, xoay người gần 180º theo chiều kim đồng
hồ, dồn tấn sang chân phải, tay phải đánh ra theo thế
" hậu chỏ " , tay trái theo thế " ẩn hạ trảo
" rồi đá tiếp thế " hữu cước đao " bằng chân
phải, thu nhanh chân phải về phía trước, đá tiếp thế
" mã nghịch lôi cước " bằng chân trái, hạ tấn chân
phải, vươn người vặn theo ngược chiều kim đồng hồ khoảng
180º , đánh tay phải theo thế " trực trảo ", tay trái
thủ thế " ẩn nhị hạ thiết trảo ". THỨC
12 : Từ thế cuối của thức mười một , vươn người lên đá
thế " tả lôi cước " bằng chân phải , hạ tấn chân
phải xuống, dướn người về phía trước vặn theo chiều
kim đồng hồ một góc khoảng 90º , đánh tay phải theo thế
" phát dương đao ", tay trái thủ thế " ẩn hạ
trảo ". Từ đó , bước tiếp chân phải về phía trước
nửa bước, vặn người ngược chiều kim đồng hồ một góc
khoảng 180º . Đồng thời, biến hai tay theo thế " ẩn thượng
trảo ". Chú ý: Ở thế chuyển này gót chân trái, phải
quay ngược chiều kim đồng hồ một khoản 90º . THỨC
13 : Từ thế cuối của thức mười hai, đổ người về phía
bên phải đá thế " thổ cước đao ", từ đó bật
người lên, hạ và dồn tấn vào chân trái, người trầm thấp
đá thế " phát thiết cước " bằng chân phải . Tiếp
đó, dồn tấn vào chân phải, dướn người lên đánh ra thế
" đả sơn quyền " bằng tay phải. Đồng thời, đảo
người theo chiều kim đồng hồ đánh thế " eo kim xà
" bằng tay trái , rồi đổ người ra phía sau đá tiếp thế
" thượng chỉ cước " bằng chân trái ". THỨC
14 : Từ thế cuối của thức mười ba, thu chân trái về nửa
vời rồi đá ra thế " tả cước đao " . Đồng thời,
lấy đà bật người về phía bên trái đá thế " giáng lôi
cước ". rồi đá tiếp thế " thổ giáng chuỳ lôi cước
" bằng chân phải ( H.222 ) THỨC 15 :
Từ thế cuối của thức mười bốn, bật người về phía
sau dồn tấn vào chân trái , hai tay thủ thế " tả hữu
thượng hạ xà " . Từ đó đổ người về phía sau đá
thế " thổ thăng chỉ cước " bằng chân phải ( H.200
) . thu chân phải về, lật người sang phải đá tiếp thế
" thổ cước đao " bằng chân trái ; từ đó thu chân
trái về phía sau chân phải, bật người và đồng thời quay
người gần 360º theo chiều kim đồng hồ. Sau đó trở về vị
trí thu tấn. CÁCH THỞ: Khác với các bài
tập khác, bài " Khởi môn cước pháp " đòi hỏi rất
chặt chẽ khả năng tự giữ và điều hoà hơi thở. Cách thức
này yêu cầu người tập phải có khả năng tự chủ cao, tự
mình phải điều chỉnh các nhịp thở, không phân biệt các động
tác chẵn lẻ trong mỗi thức, sao cho hơi thở khoan thai, nhịp
nhàng ăn ý với mọi trạng thái vận động của cơ thể. Chú
ý: Khi hít vào thở ra răng phải cắn chặt, môi mím. Tiếng hơi
mạnh tạo nên âm U... , Hà... YẾU
QUYẾT : Đây là một bài tập đòi hỏi phải có một thể lực
dồi dào, một quá trình chuản bị những kỹ thuật tối thiểu,
như sự thực hiện chuẩn xác các thế đá vừa có lực mà
chân tấn vẫn vững vàng ; vừa có khả năng vươn xa lại cao
; vừa có khả năng thu về gọn ; vừa có độ khéo léo lại
vừa có đội biến ảo linh hoạt. Vì vậy, khi học bài "
Khởi môn cước pháp " ngoài những yêu cầu phải nghiêm
túc thực hiện như bài " Khởi môn quyền pháp ", người
tập phải chú ý thực hiện đúng các thế vặn và đổ của
thân ; chiều hướng của trục tấn và trục mặt, đọ bật
và khoảng cách ngắn dài của chân di chuyển. Được như vậy,
mới mong đạt được tinh thần của bài quyền, phát huy được
ẩn năng thân pháp và cước pháp. |