|

B.
BIẾN GIẢI VỀ QUYỀN – PHÂN TÍCH KỸ
THUẬT ỨNG DỤNG:
Phép
hiểu Quyền cần phải nắm vững tinh
thần của nó. Đó là cái cốt lơi của
thuật nhu hoà, của đường lượn, tính
biến thiên, phép quy tụ... Không thấy hết tính
độc đáo của môn công, sự khác nhau
giữa kỹ thuật đi Quyền với h́nh
thức tập luyện khác, những đặc điểm
du hấp lực, những kỹ năng vận động
đặc môn, th́ người tập thật khó có
thể lĩnh hội được cái kết
quả như mong ước.
Ngoài
ra thuật luyện Quyền c̣n đ̣i hỏi
những phẩm chất riêng mang tính tự thân,
ở ư chí, ở khả năng lĩnh hội và cách
xử thế trong các t́nh huống cụ thể,
những cảnh vận động nội tại,
trải tâm hồn của ḿnh như những cánh
cửa bốn mùa đón gió, đầu để
trần, chân tiếp đất, đêm nằm trên
nền cứng gắn với thiên nhiên, hoà một
phần đời sống của chính ḿnh với thiên
nhiên.
Trong
những lần trao đổi với các chú, các bác
đồng nghiệp, điều tâm đắc là tôi
lĩnh hội được tinh thần này qua các ví
dụ và mẩu chuyện thật đơn giản mà
ư vị.
Chẳng
hạn bàn về thuật hấp lực, các vị nói
: “ Nước nuốt được tảng đá
lớn là v́ biết nhường, lau sậy nhún ḿnh
chẳng bao giờ bị đổ “.
Hoặc
:” Dùi đánh măi cũng chẳng thủng được
mặt trống, nhưng mũi lao nhỏ xuyên nó
thật dễ dàng “.
Chứng
kiến cảnh khắc cung của người nông dân
vùng Thanh Nghệ , tôi càng thấm thía ư nghĩa sâu
sắc của tinh thần trên, thật thú vị khi
thấy cùng một lúc 3, 4 người đứng cách
50 bước chân giương cung bắn liên tiếp
vào một chàng trai tay chỉ cầm một nhành tre
nhiều nhánh rung mạnh, thế mà không mũi tên nào
bén gót.
Khi
hỏi kỹ về nguyên lư này, một cụ nói”
Xung lực càng nhanh, hiệu công càng mạnh, ví như
vật nặng được buộc vào
dây mềm mà quẳng vậy “.
Tất
nhiên nên hiểu cương nhu như hai vật khác
nhau cùng soi chung vào hồ nước, chỉ những
lúc mặt nước xáo động và càng xáo động,
h́nh thể của hai vật trên mới bị
trộn lẫn vào nhau, thậm chí tan biến vào nhau.
Như
vậy, phép biến giải về quyền là nghệ
thuật linh động, hợp thức và công phu,
giống như người nghệ sĩ điều
khiển cây đàn. Không chỉ biết gẩy
mạnh , gẩy nhẹ mà quan trọng hơn là
phối hợp các âm thanh tạo nên tiếng nói đồng
điệu và giao cảm.
Thuật
cương đối cương, nhu đối cương,
thuật thân đảo du hấp lực, thuật
chủ lơi hậu áp... đều đ̣i hởi
một quá tŕnh chuyên luyện theo tinh thần áp đặt
chặt chẽ. Có như vậy mỗi bài quyền
đều chứa đựng một tinh thần riêng,
không thể lặp lại theo kiểu xáo trộn, tính
thứ tự của chiêu thức, hay các phổ
hợp du đảo, phối thuộc để có
thể tự coi là đă sáng tạo được
một bài Quyền hoàn chỉnh.
Tinh
thần cương đối cương, đ̣i
hỏi tính tốc độ , tính chuẩn xác, tính
đanh chắc của thế đánh, thế
tấn... thế phối hợp nhanh, gọn, rắn
trong quan hệ phát chiêu liên hoàn. Người tập
không nhất thiết đ̣i hỏi sự mềm
mại, khéo léo và khả năng cảm dính đặc
biệt. Nhưng ngược lại, tinh thần
của bài Quyền thuần cương đ̣i hỏi
người luyện phải thực sự có bản
lĩnh ngoan cường, ư chí bền bỉ và sự
tuân thủ gần như máy móc các yêu cầu của
bài tập.
Trong
khi đó tinh thần nhu đối cương, nhu-cương-nhu
lại đ̣i hỏi một phương pháp tập
luyện hoàn toàn khác, con đường của
thuật nhu hấp lực ngoài yêu cầu
đương nhiên phải có một khung tấn,
khung tay hợp lư, khuôn nét th́ điều quan trọng
hơn là khả năng nhận cảm – linh ứng
của toàn bộ các phần của cơ thể sao
cho khi tiếp chiêu phải giác được tốc
độ và tiêu lực các đ̣n công một cách
hữu hiệu. Nghĩa là không chỉ chuyển
hiệu năng thành công năng mà c̣n tận dụng
lực đánh của đối phương để
đả đối phương.
Do
vây, thuật tập các bài quyền nhu công đ̣i
hỏi người chuyên luyện phải có trí
nhạy cảm và suy tưởng các đ̣n thế
theo tinh thần trước sau, đặt ḿnh cảm
biến và nhập cuộc để hoá thân mềm
mại như thế uốn đớp của con
rắn , trăn ; thế chao đảo , vờn
bắt của khỉ, vượn...
nguyên lư đường cong và tính liên giác
phức tạp của bài quyền nhiều khi thật
mơ hồ, gây cho người tập ở thời
kỳ đầu có tâm lư vô vọng, chán nản khó
tiếp bắt.
Nhưng
thêm ngày, trượt qua tâm trạng nôn nóng để
b́nh lặng, tin tưởng , tiếp nhận tinh
thần môn công, nhận ra tính khoa học chặt
chẽ và ma lực ứng dụng của nó qua
thuật du đảo thân, xoay trượt tấn,
thuật lăn cổ tay, thuật xung tiêu lực,
thuật tiếp vít theo hướng đánh, thuật
thuỷ chùng lơi tấn...
Chúng ta sẽ bị hút vào một thế
giới mê trận không có giới hạn để
đi đến nhiều chân trời của ánh sáng và
tinh thần siêu thoát. Niềm vui này ở một khía
cạnh hẹp của xă hội, có tác dụng không
ít cho nhiều người tránh được sự
bế tắc, cô đọc trong đời sống -
tự ḿnh t́m ra lối thoát và cởi mở tâm
hồn.
Ngoài
môn phái, việc t́m hiểu thêm tinh thần này qua
một số thủ pháp riêng của vơ Việt nam, mà
cụ thể và chủ yếu là thông qua các bài
quyền, tôi càng thấy vơ ta có , và có cái riêng. Tính
chất bao trùm này được dự cảm trước
, lồng chứa như một nét chủ đạo
chi phối ngay từ quan
niệm ư thức cải biên, sáng tạo ở người
thầy dạy vơ.
Kỹ
thuật: “ Vuốt tỳ nhăn “, “ Văng cột
tấn “, “ Vả hà bàn “ của vùng vơ Yên
Thế là kết quả có được của bao
đời nhằm chống lại các thế đánh
trường đao, trường thương, trường
quyền của người Trung Quốc. Ngay như
thế: gồng, bốc, vét của vùng vật Hà tây,
vùng vơ Liễu đôi cũng là một biến tướng
của kỹ thuật “ Lăng xà vơ “ , “ Nơm úp
“ của đất vơ Thái B́nh, xứ Nghệ,
thể thức này có khả năng khắc chế
các môn công, trụ bán, đánh lấn đ̣n
của ḍng vơ vùng Quảng đông, Quảng tây ...
Ngay
binh khí, một phần biểu ngẫu của
thuật luyện quyền cũng chứa đủ
tinh thần “ Nê công “ (1) và truyền thống luyện vơ kiểu
“ làng xă “ của người Việt . Chất dân
gian thực dụng ngưng đọng trong các
hiện vật khai quật ở mỗi từng văn
hoá, từ Đông sơn, Phùng nguyên, Đồng đậu
đến thời Đinh, Lư , Trần, Lê... từ vũ
khí đánh gần: dao găm, kiếm ngắn ; lưỡi
thô, dày nặng , đến vũ khí đánh xa: cung
nỏ, lưỡi qua đồng, giáo lao... so sánh
chủng loại binh khí này với một
số chủng
loại binh khí của người Trung quốc như:
xích, chuỳ, bát xà mâu, việt phủ, kiếm dài...
chúng ta càng nhận thấy nét riêng của thủ pháp
đánh cận đ̣n có hiệu quả của người
Việt nhằm chống lại lối công ồ
ạt, giáp lá cà của một đội quân có
thể vóc to lớn, người đông, có trường
thương. Hoặc t́m hiểu thêm những khí đạo
tập luyện: từ cối đă xách tay , bể bùn
tập tấn, nhuỗi trận dồ tập đối
đ̣n... Chúng ta càng có quyền tự hào với trí
tuệ tích luỹ từ ngàn năm của tổ tiên,
biết dựa vào mỗi cảnh, sinh kế và công
cụ thuận tay để gom đúc tạo nên
sức mạnh cho ḿnh.
Việc
chao múa loạn ngẫu, kèm theo những tiếng thét
man rợ, những động tác gợi nên h́nh
ảnh quái đản, đe nẹt là có thực
ở các môn vơ cổ xưa của người
Việt. H́nh thái nguyên sơ thậm chí chỉ
dừng ở h́nh thức bắt “ nhại “ một
số giống vật, chính là bản năng sinh
tồn của muôn vật, của kẻ yếu
chống kẻ mạnh. Thực ra việc làm rối
loạn gây hoang mang hốt hoảng cho kẻ địch
ở phút choáng ban đầu thực có kết
quả. Khoa tâm lư trong thi đấu thể thao hện
đại cũng không thể phủ nhận
được tính tích cực của hiện tượng
tâm lư nêu trên. Vơ Hét của vùng Nghệ an, Thanh hoá ngày
nay c̣n bảo lưu được khá nhiều phương
thức tập, là hiện thân của kỹ thuật
này.
Nhờ
nghiên cứu Phật giáo ở ta và điêu khắc
đ́nh làng, dần dần tôi cũng mới nhận
thấy nét riêng đặc trưng của tinh thần
này. Điều đó thật giống như tỷ
lệ tượng Phật của người Việt
nam so với tỷ lệ tượng Phật của
người Trung quốc, người Nhật bản,
người Ấn độ, người Cam-pu-chia...
ngay nét mảng chỉ t́m hiểu thuần tuư dưới
góc độ đồ hoạ, khi tác chúng từ các
bản dập qua phù điêu, hoạ tiết trên v́ kèo,
bệ đá, bệ thờ... chúng ta cũng dễ dàng
nhận thấy nét tư duy độc đáo, rất
riêng của người Việt.
Như
vậy, cũng như nghệ thuật cổ Việt
nam nói chung, vơ ta có thể khái quát làm thành 3 yếu
tố hợp thành sau đây:
+
Có nguyên tắc nhưng không bị câu nệ ;
+
Hướng về hiệu quả chứ không bị
khuôn thức của h́nh thức trói buộc ;
+
Vươn đến cá tính với giá trị nhân
bản riêng.
So
sánh một số môn công của người Trung
quốc với vơ ta : Thế lăn khiên với địa
đường quyền ; câu liêm thương,
mồng rựa với thế đánh của bát xà mâu,
việt phủ ; trung b́nh tiên để nguyên cành
với lưỡi xích đao, thiên truỳ khích... chúng
ta cũng tự rút ra một số nhận xét khái quát
sau :
Một
là, thế tấn của các môn vơ ta thường
lấy năng động làm gốc, không chủ trương
hoàn toàn bám đất và trầm kín giữ thân (
tấn của ta bồng bềnh dễ lơi, dễ
xoay trượt chứ không đanh chắc ).
Hai
là, thế vơ của ta thường tạo ảo giác
chủ công, nhưng kỳ thực là giả công ; dùng
đ̣n liên thủ để khắc công, chống công.
Ba
là, thế tay và đ̣n tay của vơ ta thường
bao chứa thuật hợp binh công tiễn, lấy
thủ hào làm gốc, không ồ ạt tiến công,
không có quy tắc khuôn thước.
Bốn
là, cơ thể bé, chân ngắn tay ngắn nên thủ
thế, thủ công của vơ ta thường dùng
kỹ thuật đánh đoản đ̣n ; lấy di,
ép, trượt, bám , xoay làm chính, không vươn cao,
vươn xa áp đảo.
Năm
là, thuật di chuyển của vơ ta thường
bất ổn. Lấy thuật nghi binh , tiến thoát vô
h́nh làm gốc, không chịu đối đầu
lộ liễu.
Sáu
là, thể thức đồ h́nh của vơ ta không có
khuôn thức bó buộc, thiên năng , thiên biến.
Ở
đây, chúng ta thấy vơ ta và một số ḍng vơ chính
của người Trung quốc, nói chung có hai điểm
khác nhau cơ bản : Đó là thể chất và ư tưởng.
Một đằng là lối chơi của người
nhỏ bé, không thể khuếch trương - lấy
cái thực lực của kẻ yếu làm chính, nên
thậm chí nhiều khi không có lề luật. C̣n
một đằng là lối chơi của kẻ
mạnh, cơ thể to lớn có phép tắc , có
lề luật, với một hệ thống bài
tập quy củ, có khuôn mẫu nhiều năm.
Tất nhiên, dưới giá của cái chết
chẳng có quy tắc nào tồn tại với kẻ
thắng, thua.
Từ
những điểm khác nhau căn bản đó, tôi càng
nhận thấy vơ ta thường mang tính khắc
chế, t́m cách chống lại chứ không chủ công,
nên các bài quyền và phương pháp tập
luyện thường tập trung nhằm cho một
mục đích cụ thể xem như lẽ sống c̣n.
Hơn thế nữa, với nguồn sống chính là
trồng trọt và tiểu chăn nuôi, sinh tụ
chủ yếu trên các vùng ô trũng, với nét tư
duy nguyên thuỷ thờ thần mặt trời,
cầu mong sự phồn thực... cũng tạo cho
đời sống tinh thần của người
Việt ở làng, xă khá ổn định, ít có nhu
cầu đổi thay, không có sự thù hằn sâu
sắc và truyền kiếp về tôn giáo, về
chủng tộc, luôn mong muốn quy tụ vào một
mối, thích sống hoà b́nh với láng giềng. Nên
mặc dầu là một nước có tinh thần thượng
vơ cao, vơ công hiển hách nhiều, song trong đời
sống thường ngày gần như không có
cảnh chém giết liên miên. Họa hoằn mới có
sự tranh giành ngôi thứ và vai tṛ gịng họ. Trong
vơ công toát lên tinh thần nhân ái . Ch́nh v́ vậy, mà
đ̣n công của vơ ta thường ít hơn đ̣n
thủ, mà thủ căn bản vẫn là đ̣n
khắc chế, ít sát phạt.
Quay
lại những vấn đề căn bản về
Quyền, để dễ hiểu tôi xin tŕnh bày dưới
góc độ phân tích, nhưng trước hết tôi
xin dẫn chứng thêm một khái niệm cụ
thẻ như sau:
“
Quyền là một tổ hợp bao gồm tất
cả các động tác, hành động của cá nhân
được thể hoá theo một trật tự
nhất định có giới hạn; giúp người
tập luyện có bản lĩnh ứng xử,
phản xạ tay chân linh hoạt... có sức chịu
đựng, thể lực , tốc độ với
kiểu thức hoạt động đặc trưng
thiên về hướng bảo vệ ḿnh, chế
ngự đối phương bằng kỹ thuật
của các bộ phận của cơ thể “.
Như
vậy đ̣n thế, thân pháp... căn bản của
Quyền là những kỹ thuật quan trọng
nhất mà bất cứ người học vơ nào cũng
cần phải nắm vững để thực
hiện phối hợp chiến thuật một cách
thuận lợi. Sự vận dụng kỹ thuật
tuỳ theo yêu cầu của trận đấu,
tuỳ theo trạng thái tâm lư khi thi đấu,
tuỳ theo bản lĩnh và khả năng của các
đấu thủ và cả ngay chính tác động tích
cực, hay không tích cực của người xem...
Kỹ
thuật của Quyền rất đa dạng: khi
ứng đấu các vơ sĩ phải xử lư đồng
bộ nhiều động tác của tay, chân, của
đầu, của thân, của mông... khi chậm, khi
nhanh, khi mạnh, khi nhẹ... khi đánh xa , khi đánh
gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh
đ̣n đơn, khi đánh đa đ̣n... khi đánh
trực diện, khi đánh từ hai phía... khi chập
chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn...
Mặt khác trong qúa tŕnh luyện
quyền , người học vơ phải thường
xuyên di chuyển bằng các thức; bước
chuyển, nhảy , lăn, lộn, chạy... để
phù hợp với t́nh huống tấn công hoặc pḥng
thủ. Căn cứ vào từng t́nh huống đặc
trưng đó, ta có thể chia kỹ thuật tập
quyền thành 2 giai đoạn:
+
Tập kỹ thuật thuần tuư.
+
Tập kỹ thuật liên tưởng có đấu
thủ.
|