|
10
động tác tập luyện kết hợp với
phương pháp thở thư giăn
Luyện thở - Khí công nội
công có một ư nghĩa to lớn đối với
việc nuôi dưỡng và nâng cao sức khoẻ,
sức mạnh, sức bền, sự minh mẫn,
sảng khoái và thanh thản ; hơn nữa đối
với các vận động viên thể thao, các vơ sĩ
,luyện thở, biết cách thở là một trong
những yếu tố quan trọng đối với
việc hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo,
phẩm chất tâm lư ( có tính chất xác định
thành tích ), và ngoài ra
luyện thở c̣n thúc đẩy việc phát
triển các khả năng trong tập luyện , trong
giao đấu, trong việc sử dụng sức
mạnh và các nguồn dự trữ của bản thân
một cách hợp lư, tối đa và đặc
biệt là khả năng chế ngự sức xúc
động từ bên trong – mà nhiều khi lại là
yếu tố duy nhất dễ dẫn đến
những thất bại không thể ngờ đến
thất đau xót và cay đắng.
Nhưng
tập thở, theo phương pháp khí công, nôi công thường
rất khó - bởi trái với cách b́nh thường và
đ̣i hỏi thời gian.
Ở
tập 1 , khi giới thiệu DƯỠNG TÂM GIA PHÁP
đă có viết: “ Việc tập “ nội ” không
thể ngay một lúc nhận thấy hết được
hiệu quả lớn lao của nó , cũng như
mốc kết thúc thời gian . Người tập
một năm có kết quả 1 năm, tập năm
5 , 10 năm có kết qua 5 năm, 10 năm...”
Cũng
không ngoài ngầm ư muốn nhấn mạnh vai tṛ
của thời gian, và chỉ có thời gian.
Ở
tập 2 , bài giới thiệu 10 động tác
tập luyện kết hợp với phương pháp
thở thư giăn, và 4 giai đoạn tiếp theo
của phần DƯỠNG TÂM GIA PHÁP
- cũng chỉ đ̣i hỏi sự tập trung,
kiên tŕ và nghị lực tự ḿnh thắng chính ḿnh.
Sách
Phương pháp dưỡng
sinh của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng
có viết:
“ Người
xưa nói trong tập luyện phải theo 3 nguyên
tắc NỘI TAM HỢP
1.
TÂM CÙNG Ư HỢP: phải thanh tâm để
cho tâm ư chỉ lo hợp với ư để tập
trung tập luyện tập.
2.
Ư CÙNG KHÍ HỢP: tập trung ư để lo
điều khiển khí , theo dơi việc thở.
3.
KHÍ CÙNG LỰC HỢP: các sức ( lực )
của các cơ thể (
chủ yếu là cơ hoành ) phải dùng để hít
khí vào triệt để th́ mới đem lại
hiệu quả.
Người
xưa bảo phải “ thân tùng ư khẩn “. Theo ư
chúng tôi nghĩa là cơ thể phải thư giăn hoàn
toàn, và ư phải tập trung trong việc điều
khiển hơi thở , mà khẩn bao nhiêu th́ việc
thư giăn càng tốt bấy nhiêu.
C̣n
câu: “Động trung cầu tĩnh , tĩnh trung
thủ công “ th́ phải hiểu sự thống
nhất giữa tĩnh và động của Đông y
; trong cái động của việc thở, phải có
cái tĩnh của các bộ phận khác của
thần kinh và các cơ khác; câu: “ Tinh thần nghi tĩnh,
khí huyết nghi động “ bộ thần kinh thường
thường làcăng thẳng, vậy phải tập
cho tĩnh, c̣n khí huyết thường bị ứ
trệ, vậy phải tập cho động, cho lưu
thông “ ( trích sách Phương pháp dưỡng sinh, nhà
xuất bản y học, Hà nội, 1975, trang 55 )
Sự
trích dẫn tham khảo trên đây một lần
nữa cũng không ngoài ngầm ư khuyến nhằm khích
sự tập luyện và niền tin về phương
pháp.
Tất
nhiên ở mỗi môn phái: về h́nh thức về
yếu quyết dều có sự khác nhau, nhưng cái
đích cuối cùng vẫn là niềm mong ước
giúp cho mỗi người có cơ thể khoẻ
mạnh, dẻo dai, sảng khoái, linh hoạt, yêu đời
và nhân hậu.
Sau
đây xin được tuần tự giới
thiệu các bài tập.
BÀI
TẬP THƯ GIĂN:
PHẦN
ĐỘNG TÁC:
+
Thế thứ nhất:
Từ
tư thế đứng thẳng hai chân rộng
bằng vai, hai bàn tay ( tay đao ) để chồng lên
nhau ở vị trí dưới rốn ( tay trái dưới
, tay phải trên ) , ḷng hai bàn tay hướng lên
trời và song song với mặt đất ( H.225 ) .
Từ từ ngước mặt lên , ngửa nh́n
trời và đồng thời nâng dần hai bàn tay lên
cao, thế nâng trùng với hướng trục ngang
của thân, áp xiết má ngoài của hai bàn tay vào
nhau ở vị trí trên đỉnh đầu sao cho
lực cơ phải căng và khả năng vương
cao của hai tay phải tối đa (ở mức có
thể vương đến được ). ( H.226 )
+
Thế thứ hai:
Từ
tư thế thứ nhất ( H.226 ) từ từ
trở về tư thế khởi phát ( H.225 ).
+
Thế thứ ba:
Từ
( H.225 ) từ từ thu hai bàn tay về vị trí
cạnh sườn , biến tay đao thành tay
trảo, đẩy hai bàn tay trảo về phía trước,
vươn ở mức tối đa sao cho hai cánh tay
vừa song song với nhau, vừa song song với
mặt đất, đồng thời hai khuỷ chân
củng từ từ trầm xuống, sao cho má dưới
của hai đùi song song với mặt đất .
Trục lưng thẳng, hướng mặt nh́n
thẳng ( H.227 ).
+
Thế thứ tư:
Từ
tư thế ( H.227 )
từ từ trở về tư thế khởi phát (
H.225 ).
+
Thế thứ năm:
Từ
( H.225 ) từ từ thu hai bàn tay về vị trí
cạnh sườn, biến tay đao thành tay trảo,
ngửa người ra phía sau , uốn ở mức
tối đa, đồng thời đẩy hai ḷng bàn
tay trảo xuống đất hướng song song
với trục thân ( cánh tay ở đằng sau , ngón
tay quay vào trong thân, cườm tay quay ra ngoài ) . Chú ư,
khi thực hiện động tác uốn dẻo và ép
hai tay xuống đất hai chân phải căng
cứng, khuỷu gối không được gập (
H.228 ).
+
Thế thứ sau:
Từ
tư thế ( H.228 )
từ từ trở về tư thế khởi phát (
H.225 ).
+
Thế thứ bảy:
Từ
( H.225 ) từ từ thu hai bàn tay về vị trí
cạnh sườn, biến tay đao thành tay trảo
, đảo người về phía bên trái theo ngược
chiều kim đồng hồ một góc khoảng 90°
, đồng thời, đẩy song song hai bàn tay
trảo về phía bên trái, dồn tấn vào chân trái,
gót chân phải vặn theo trục thân, toàn thân
trầm thấp ( H.229 ).

+ Thế thứ tám:
Từ
tư thế ( H.229 )
từ từ trở về tư thế khởi phát (
H.225 ).
+
Thế thứ chín:
Từ
( H.225 ) thực hiện động tác giống như
thế thứ bảy ở chiều ngược
lại ( H.230 ).
+
Thế thứ mười:
Từ
tư thế ( H.230 )
từ từ trở về tư thế khởi phát (
H.225 ).
Cứ
như vậy tập đi tập lại nhiều
lần. Từ 1 đến 10 , rồi trở lại
từ 1 đến 10 ... hoặc có thể
tập đi tập lại chỉ một động
tác, và sau đó mới thay đổi. Tất nhiên là
thời gian tập nên dành vào buổi sáng vừa
ngủ dậy, buổi tối trước khi đi
ngủ, hoặc sau ca làm việc, hoặc sau một
buổi tập là tốt nhất.
-
PHẦN HƠI THỞ:
Thở
từ tốn bằng bụng ( hít vào qua mũi,
thở ra qua miệng bằng cách há to miệng ) sao cho
khoảng thời gian lấy hơi và khoảng
thời gian đẩy hơi khớp với khoảng
thời gian vận động giữa hai trạng thái
( khởi đầu và kết thúc ) . Khi tiến hành
thở, cần lưu ư: động tác lẻ (
thế ) hít vào, động tác chẵn thở ra.
Về
h́nh thức đây chỉ là một phương pháp
tập thở thư giăn có kết hợp với
phần động tác. Nhưng đối với người
đă tập nội và có ư thức tập nội ,
th́ đây chính là dạng bài tập cơ sở
nhằm chuẩn bị rất tự nhiên các tư
thế thuận tiện cho cho việc dẫn khí, làm
thông thoáng và tăng mức độ cảm nhận
, tiến đến giai đoạn dùng ư dẫn khí
sau này.
|